You are here:

Tiền lương thử việc có được hoàn thuế thu nhập cá nhân không?

Chào TinLaw! Em tên Nguyễn.H.Tú, hiện đang làm nhân viên thử việc của công ty chuyên về thiết kế website. Khi trao đổi với nhân sự của công ty em được biết, mức lương khi được vào làm chính thức là 9 triệu, còn hiện tại đang thử việc nên chỉ được hưởng 75% lương chính thức. Ngoài ra, vì hợp đồng thử việc dưới 3 tháng nên công ty trừ lại lương của em 10%. Sau này lương chính thức cũng sẽ bị trừ theo quy định. Vì thế em muốn hỏi lương thử việc như vậy đúng quy định chưa? Và tiền lương từ hợp đồng thử việc có được hoàn thuế không?

Chào Tú, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Với 2 vấn đề “Lương thử việc chỉ được hưởng 75% lương chính thức đúng không? Và tiền lương từ hợp đồng thử việc có được hoàn thuế không?Dịch vụ kế toán TinLaw xin được giải đáp như sau:

Lương thử việc bằng 75% lương chính thức đúng không?

Theo điều 26 của Bộ Luật Lao động năm 2019 quy định về tiền lương trong thời gian thử việc như sau :

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

⇒ Như vậy, mức lương trong thời gian thử việc của bạn 75% lương chính thức là không đúng quy định của pháp luật hiện hành. Tú cần trao đổi để được nhận mức lương thử việc đúng quy định để đảm bảo quyền lợi bản thân.

Lương thử việc bằng 75% lương chính thức là sai quy định
Lương thử việc bằng 75% lương chính thức là sai quy định

Tiền lương từ hợp đồng thử việc có được hoàn thuế không?

Theo điểm i khoản 1 điều 25 Thông tư số 111/2013/TT – BTC của Bộ Tài chính và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Quy định về khấu trừ thuế thu nhập cá nhân như sau:

“i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

….”

⇒ Theo quy định trên, công ty tạm thu 10% tiền thuế thu nhạp cá nhân của Tú như vậy là đúng theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm: Cách tính thuế thu nhập cá nhân trong thời gian thử việc

Bên cạnh đó, theo điểm a, b khoản 1 điều 9 của Thông tư số 111/2013/TT-BTC quy định về mức giảm trừ gia cảnh cho cá nhân cư trú như sau:

“1. Giảm trừ gia cảnh

Theo quy định tại Điều 19 Luật Thuế thu nhập cá nhân; khoản 4, Điều 1 Luật thuế thu nhập cá nhân được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007 ; Điều 12 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, việc giảm trừ gia cảnh được thực hiện như sau:

a) Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú.

Trường hợp cá nhân cư trú vừa có thu nhập từ kinh doanh, vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công thì tính giảm trừ gia cảnh một lần vào tổng thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công.

b) Mức giảm trừ gia cảnh

b.1) Đối với người nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng, 108 triệu đồng/năm.

b.2) Đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng.”

Khi xét tiền lương đóng thuế cần trừ đi khoản giảm trừ gia cảnh
Khi xét tiền lương đóng thuế cần trừ đi mức giảm trừ gia cảnh

Và Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020 và áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2020. Cụ thể, điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2012) như sau:

“Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm);

Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng.

Các trường hợp đã tạm nộp thuế theo mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2012) được xác định lại số thuế thu nhập cá nhân phải nộp theo mức giảm trừ gia cảnh quy định tại Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14 khi quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2020.”

Như vậy, 6 tháng đầu năm việc đóng thuế thu nhập cá nhân sau khi được giảm trừ gia cảnh của bạn sẽ áp dụng theo Thông tư số 111/2013/TT-BTC. Còn 6 tháng cuối năm áp dụng theo Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14. Căn cứ theo mức thu nhập hiện tại của bạn là khoảng 9 triệu đồng/tháng thì bạn sẽ chưa phải đóng thuế thu nhập cá nhân. Do vậy, cuối năm khi thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân thì số tiền thuế bạn đã tạm nộp trong năm sẽ được hoàn lại.

Ngoài ra, Tú có thể tham khảo thêm bài viết dưới đây để làm thủ tục hoàn thuế để nhận lại số tiền thuế đã tạm nộp: Thủ tục hoàn thuế thu nhập cá nhân

TinLaw vừa giải đáp xong cho 2 câu hỏi “Lương thử việc chỉ được hưởng 75% lương chính thức đúng không? Và tiền lương từ hợp đồng thử việc có được hoàn thuế không?”. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ chúng tôi để được hướng dẫn, giải đáp.

Picture of TinLaw

TinLaw

TinLaw với mong muốn nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của Pháp lý & Kế toán trong kinh doanh, luôn đồng hành và đưa ra các giải pháp hiệu quả, tối ưu chi phí để giúp cho doanh nghiệp SMEs vận hành đúng luật và phát triển bền vững.