Quyết định không khởi tố vụ án hình sự: Căn cứ, thẩm quyền và thủ tục

Luật sư Phạm Hoàng Hải

Kiểm duyệt bởi Luật sư Phạm Hoàng Hải — Cố vấn, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội

Liên hệ Tư vấn miễn phí 24/7online

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là văn bản tố tụng do cơ quan có thẩm quyền ban hành khi xác định không đủ căn cứ để mở vụ án hình sự. Công ty Luật TINLAW phân tích căn cứ pháp lý, cơ quan có thẩm quyền và thủ tục khiếu nại đối với quyết định này theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác minh và đi đến một trong hai hướng xử lý: khởi tố vụ án hình sự nếu có dấu hiệu tội phạm, hoặc ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự nếu không đủ căn cứ. Đối với người tố giác hoặc bị hại, việc nhận được quyết định không khởi tố thường gây nhiều băn khoăn: căn cứ nào để cơ quan chức năng đưa ra quyết định này, ai là người có thẩm quyền, và nếu không đồng ý thì phải làm gì.

Bài viết dưới đây của TINLAW phân tích ba nội dung cốt lõi theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021): căn cứ ra quyết định không khởi tố, cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự, và thủ tục khiếu nại khi không đồng ý với quyết định không khởi tố.

Căn cứ ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

  1. Không có sự việc phạm tội — qua xác minh, sự việc được tố giác hoặc phản ánh trên thực tế không xảy ra, hoặc có xảy ra nhưng không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội.
  2. Hành vi không cấu thành tội phạm — hành vi có xảy ra nhưng không thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự.
  3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định về độ tuổi tại Bộ luật Hình sự.
  4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật — tránh việc xử lý trùng đối với cùng một hành vi.
  5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội đó.
  6. Tội phạm đã được đại xá.
  7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.
  8. Tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại nhưng bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố — áp dụng với một số tội danh cụ thể mà pháp luật quy định là khởi tố theo yêu cầu bị hại (ví dụ một số tội xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm ở mức độ nhẹ).

Theo Điều 158 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi có một trong các căn cứ trên, người có thẩm quyền khởi tố vụ án phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu vụ án đã được khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố, đồng thời thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố biết rõ lý do. Nếu xét thấy hành vi cần được xử lý bằng biện pháp khác (ví dụ xử phạt vi phạm hành chính), hồ sơ sẽ được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tương ứng để giải quyết.

Cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự?

Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự (bao gồm cả thẩm quyền ra quyết định không khởi tố) được quy định tại Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, gồm bốn nhóm chủ thể:

  • Cơ quan điều tra: có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát hoặc Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết.
  • Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và một số cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân): ra quyết định khởi tố đối với vụ việc có dấu hiệu tội phạm phát hiện trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình, sau đó chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền theo thời hạn luật định.
  • Viện kiểm sát: ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong các trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố của Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; khi Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; hoặc khi Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm, hay theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử mà Cơ quan điều tra không khởi tố.
  • Hội đồng xét xử: ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội mới.

Như vậy, thẩm quyền ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự thuộc về chính cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án đó – phổ biến nhất trên thực tế là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra sau khi xác minh tố giác, tin báo về tội phạm.

Thủ tục khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự?

Nếu không đồng ý với Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, người tố giác, bị hại hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan có quyền khiếu nại theo trình tự sau:

Người có quyền khiếu nại: Theo Điều 469 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đối với Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, người khiếu nại thường là người đã tố giác, báo tin về tội phạm hoặc bị hại trong vụ việc.

Thời hiệu khiếu nại: Theo Điều 471 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày người có quyền khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà họ cho rằng có vi phạm pháp luật. Đây là mốc thời gian quan trọng cần lưu ý, vì nếu để quá thời hạn này mà không có lý do bất khả kháng, quyền khiếu nại có thể không còn được xem xét theo thủ tục thông thường.

Nơi nộp đơn và thẩm quyền giải quyết: Đơn khiếu nại được gửi đến Viện kiểm sát cùng cấp với cơ quan đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, do Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố. Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu.

Khiếu nại lần hai: Nếu người khiếu nại không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, họ có quyền tiếp tục khiếu nại lên Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.

Kết quả giải quyết khiếu nại: Nếu xét thấy khiếu nại có căn cứ, Viện kiểm sát sẽ hủy bỏ Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án, hoặc Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án theo thẩm quyền tại Điều 153. Ngược lại, nếu khiếu nại không có căn cứ, Viện kiểm sát sẽ ra quyết định giữ nguyên Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và thông báo lý do bằng văn bản cho người khiếu nại.

Trên thực tế, để đơn khiếu nại có sức thuyết phục, người khiếu nại nên trình bày rõ căn cứ pháp lý bị áp dụng chưa đúng hoặc tình tiết bị bỏ sót trong quá trình xác minh, kèm theo tài liệu, chứng cứ liên quan, thay vì chỉ nêu quan điểm không đồng ý chung chung.

Câu hỏi thường gặp

Ai có quyền ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự?

Người có thẩm quyền khởi tố vụ án theo Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 — phổ biến nhất là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; ngoài ra còn có cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát và trong một số trường hợp là Hội đồng xét xử.

Không đồng ý với Quyết định không khởi tố thì phải làm gì?

Người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan có thể gửi đơn khiếu nại đến Viện kiểm sát cùng cấp với cơ quan đã ra quyết định, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

Khiếu nại quyết định không khởi tố có mất phí không?

Việc khiếu nại theo thủ tục tố tụng hình sự không phát sinh án phí hay lệ phí như khởi kiện dân sự; người khiếu nại chỉ cần chuẩn bị đơn khiếu nại và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

Nếu Viện kiểm sát bác đơn khiếu nại lần đầu thì còn cách nào khác không?

Người khiếu nại có quyền khiếu nại lần hai lên Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai là quyết định cuối cùng theo thủ tục khiếu nại trong tố tụng hình sự.

Kết luận

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự chỉ được ban hành khi có một trong 8 căn cứ quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bởi cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án theo Điều 153. Nếu không đồng ý với quyết định này, người tố giác, bị hại hoặc người có quyền lợi liên quan cần thực hiện quyền khiếu nại trong thời hạn 15 ngày, gửi đến Viện kiểm sát cùng cấp, và có thể khiếu nại tiếp lên Viện kiểm sát cấp trên nếu chưa đồng ý với kết quả giải quyết lần đầu.

Để được tư vấn đánh giá căn cứ của quyết định không khởi tố, soạn đơn khiếu nại và đồng hành trong quá trình giải quyết, hãy liên hệ TINLAW. Tham khảo thêm dịch vụ tư vấn pháp luật hình sự để được hỗ trợ kịp thời.

5/5 - (1 bình chọn)
Author Avatar

Luật sư Phạm Hoàng Hải

Kiểm duyệt bởi Luật sư Phạm Hoàng Hải - Cố vấn cấp cao, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội.

TL
TINLAW
Xin chào, TINLAW
giúp gì cho bạn?
Nhắn tin Fanpage
facebook.com/congtyluattinlaw
Z
Nhắn tin Zalo
033.855.1998
Gọi hotline
0766 083 966